Ngô Tuấn từ một hoạn quan trở thành Anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt

Lý Thường Kiệt (1019–1105) là một danh tướng đời nhà Lý có công đánh bại quân nhà Tống vào năm 1075-1077. Ông là một vị tướng nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên ông không phải là người mang họ Lý, cuộc đời ông còn gây tò mò cho hậu thế khi ly hôn vợ, tịnh thân trở thành một hoạn quan bên cạnh vua và rồi sau đó trở thành một vị tướng lừng danh trong lịch sử dân tộc.

Lý Thường Kiệt tên thật là Ngô Tuấn, tự là Thường Kiệt. Sau này, ông được ban cho quốc tính (họ của vua) và lấy tên là Lý Thường Kiệt (Theo một số tài liệu khác thì Lý Thường Kiệt vốn họ Quách). Bài viết này dựa theo quan điểm của đa số học giả ông là Ngô Tuấn.

Ngô Tuấn từ một hoạn quan trở thành Anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt

Năm Ngô Tuấn 13 tuổi thì mất cha, được người chú rể là Tạ Đức đón về nuôi nấng, học tập đầy đủ cả văn lẫn võ. Yêu mến đứa cháu có chí hướng, Tạ Đức còn đem cô cháu gái tên là Tạ Thuần Khanh gả cho Ngô Tuấn. Năm 17 tuổi thì Ngô Tuấn mất mẹ, sau đó con đường sự nghiệp được khởi dầu bằng chức Kỵ mã hiệu úy – một chức quan nhỏ trong lực lượng kỵ binh của quân đội. Dù đã có vợ nhưng Ngô Tuấn suốt ngày nghiền ngẫm binh thư, nên ít có thời gian để ý đến vợ, vì thế mà suốt mấy năm liền vẫn chưa có con (thực ra trên quan điểm y học hiện đại thì không loại trừ khả năng ông vô sinh).

Càng lớn thì ai cũng thích được chơi với Ngô Tuấn vì dáng vẻ khôi ngô và sự tài giỏi. Năm 1041, vua Lý Thái Tông trong khi đi săn đã tình cờ gặp chàng kỵ mã Ngô Tuấn. Vua lấy làm yêu mến tài năng của Ngô Tuấn nên rất muốn ông nhập cung hầu cận, nhưng nếu như thế thì phải “tịnh thân”. (có mùi đam mỹ đâu đây).

Ngô Tuấn xưa nay rất chăm chỉ học hành, nghĩ rằng đây là dịp tốt để có cơ hội dùng đến tài năng và kiến thức mà ông đã có được nên bằng lòng với Vua. Ngô Tuấn về bàn với vợ, quyết định vào cung, còn vợ sẽ đi tìm hạnh phúc khác. Tạ Đức khi biết tin cũng giận dữ, nhưng nghĩ lại là ý Vua cũng khó từ chối, nên ông cũng đứng ra giúp đỡ Ngô Tuấn giải quyết chuyện với vợ mình để nhập cung. Và từ đó Ngô Tuấn trở thành thái giám trong cung đình.

Ban đầu Ngô Tuấn chỉ là một thái giám làm việc lặt vặt hầu cận bên Vua. Nhưng với tài năng của mình, ông đã lập được nhiều công lao và nhanh chóng chiếm được cảm tình trong hoàng tộc nhà Lý. Vì thế mà nhà Lý quyết định đổi ông từ họ “Ngô” sang họ “Lý” (tức mang họ của Vua) với tên gọi là Thường Kiệt. Bắt đầu từ đấy Lý Thường Kiệt đã ghi dấu tên tuổi của mình vào lịch sử.

Ông trở thành linh hồn của những chiến công lớn nhất lịch sử nước nhà trong thế kỷ thứ XI

Năm 1069, vua Lý Thánh Tông thân chinh đi đánh quân Chiêm Thành. Lý Thường Kiệt được phong đại tướng, chỉ huy đội quân tiên phong tiến vào đánh phá kinh thành và bắt được quốc vương Chiêm Thành là Chế Củ. Chế Củ đã xin hàng và dâng ba châu: Bố Chánh, Địa Lý, Ma Linh (nay là địa phận Quảng Bình và bắc Quảng Trị) để chuộc tội.

Sau khi dẹp yên được quân Chiêm Thành, Lý Thường Kiệt được ban phụ quốc Thái phó, tước Khai Quốc công. Tháng 8 năm 1075 ông được phong chức Đôn quốc Thái uý. Đến khi mất, ông được vua Lý Nhân Tông truy phong chức Kiểm hiệu Thái uý Bình chương sự và ban tước Việt Quốc công. Chức vụ của ông lúc ấy lớn thứ 2 trong triều chỉ sau thái sư Lý Đạo Thành.

Năm 1072, vua Lý Thánh Tông từ trần, hoàng tử Càn Đức- con trai của Nguyên phi Ỷ Lan lên ngôi lấy hiệu là Lý Nhân Tông khi mới 7 tuổi.

Quân nhà Tống thấy “ấu chúa” lên ngôi là một cơ hội tốt để xâm lược nước ta. Chúng đã tiến hành xây dựng những căn cứ quân sự và hậu phương tại ba châu Ung, Khâm, Liêm (thuộc Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay).

Trước âm mưu xâm lược của giặc phương Bắc, Lý Thường Kiệt cho rằng: “Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước, chặn thế mạnh của giặc”. Được triều đình tán thành, ông huy động 10 vạn quân tiến hành một cuộc tập kích đánh thẳng vào các căn cứ chuẩn bị xâm lược của kẻ thù ngay trên đất Tống.

Lý Thường Kiệt đã viết bài hịch Phạt Tống lộ bố văn nhằm nói rõ lý do đánh Tống rồi niêm yết tại nhiều nơi. Nhờ đó, cuộc chiến với quân Tống đã được nhân dân ta hết lòng ủng hộ.

Trong Việt sử tiêu án, nhà viết sử Ngô Thì Sĩ đã ca ngợi Lý Thường Kiệt: “Bày trận đường đường, kéo cờ chính chính, mười vạn thẳng sâu vào đất khách, phá quân ba châu như chẻ trúc, lúc tới còn không ai dám địch, lúc rút quân còn không ai dám đuổi, dụng binh như thế, chẳng phải nước ta chưa từng có bao giờ”.

Tháng chạp năm Bính Thìn 1076 nhà Tống cho quân tấn công vào nước ta. Nhà Lý giao cho Lý Thường Kiệt lãnh đạo quân đội chống lại quân xâm lược. Ông đã chặn đánh giặc Tống tại sông Như Nguyệt. Quân nhà Tống bị đẩy lui, tướng Quách Quỳ phải cho quân lui về phía Tây, đóng tại bờ sông Phú Lương.

Lý Thường Kiệt nhiều lần đem binh thuyền đón đánh không cho quân Tống sang sông. Cuộc chiến giữa hai bên diễn ra vô cùng ác liệt. Có lần giặc Tống đã chọc thủng cả một phần phòng tuyến sông Như Nguyệt vững chãi, khiến quân ta chết mấy ngàn người.

Cuộc chiến này đã khiến đại Tống tổn thất nặng nề về người và của. Nếu tính cả quân số của nhà Tống bị tiêu diệt ở Châu Ung, Châu Khâm và Châu Liêm, tổng số quân Tống bị giết lên tới khoảng ba chục vạn. Chi phí cho cuộc chiến tranh nếu quy ra vàng thì tổng chi phí lên tới 5.190.000 lạng.

Thất bại này đã khiến giặc phương Bắc từ bỏ ý định xâm lược và đô hộ Giao Chỉ (tên hiệu của nước ta lúc bấy giờ) và trong khoảng 200 năm sau đó, triều đại Trung Quốc không dám đụng đến đất nước ta.

Từ một hoạn quan, Ngô Tuấn trở thành người anh hùng dân tộc, nhà quân sự kiệt xuất, nhà chính trị và ngoại giao tài ba Lý Thường Kiệt, người lãnh đạo quân dân Đại Việt thời Lý, phá Tống bình Chiêm thắng lợi. Với công lao hiển hách của mình, Lý Thường Kiệt từng được cả triều đình nhà Lý quý trọng. Ngay lúc ông còn sống, Lý Nhân Tông đã cho làm bài hát để tán dương công trạng. Ông được lịch sử ghi nhận là anh hùng kiệt xuất, một con người hiến dâng cả tâm hồn sức lực cho sự nghiệp độc lập của Tổ quốc ở buổi đầu thời tự chủ.

Lý Thường Kiệt mất tháng sáu năm Ất Dậu (tức trong khoảng từ 13/7 đến 11/8/1105), thọ 86 tuổi, được truy tặng Kiểm hiệu Thái úy bình chương quân quốc trọng sự, tước Việt Quốc Công. Nhiều nơi đã lập đền thờ, dựng bia ghi công lao của ông, tiêu biểu nhất là bài văn bia chùa Linh Xứng ở huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá.

Nguồn:

  • Sách Danh nhân Đất Việt, NXB Văn học.
  • Sách Lý Thường Kiệt, tác giả Hoàng Xuân Hãn.